Nhập khẩu dược phẩm về Việt Nam liên tục tăng

Thứ tư, 13/11/2019 | 15:19 GMT+7

VIÊN VIÊN (t/h)

Việc không đủ tiềm lực tự phát minh thuốc mới là nguyên nhân chính khiến kim ngạch nhập khẩu dược phẩm liên tục tăng mạnh trong những năm gần đây.

So với cùng kỳ 2018, kim ngạch nhập khẩu thuốc tính từ đầu năm đến hết tháng 9/2019 đạt 2,28 tỷ USD, tăng 11,3% so với cùng năm trước, tính riêng tháng 9/2019 kim ngạch đạt 247,81 triệu USD, tăng 10,2% so với tháng 8/2019.

Theo số liệu của Tổng cuc Hải quan, thị trường nhập khẩu của Việt Nam những tháng đầu năm rất đa dạng với hàng chục quốc gia, vùng lãnh thổ ở châu Á, châu Mỹ, châu Âu, châu Đại Dương. Trong đó, nhiều thị trường lớn trong khu vực châu Âu đang cung cấp dược phẩm cho Việt Nam.

Đến hết tháng 9/2019, Pháp là quốc gia có kim ngạch nhập khẩu thuốc lớn nhất của Việt Nam đạt 296 triệu USD, tăng 28,76% so với cùng kỳ 2018, riêng tháng 9/2019 kim ngạch nhập khẩu từ thị trường này đạt 31,35 triệu USD, tăng 15,59% so với tháng 8/2019 và tăng 25,08% so với tháng 9/2018.

Thị trường nhập nhiều đứng thứ hai là Đức đạt 26,41 triệu USD trong tháng 9/2019, giảm 1,08% so với tháng 8/2019 nhưng tăng 33,12% so với tháng 9/2018, tính chung 9 tháng đầu năm 2019 đạt 241,53 triệu USD, tăng 6,84% so với cùng kỳ năm 2018.

Ngoài ra, Việt Nam còn nhập khẩu thuốc từ các thị trường khác nữa như: Ấn Độ đạt 183,36 triệu USD, giảm 3,33%; Hàn Quốc tăng 10,23% đạt 130,79 triệu USD và Thụy Sỹ giảm 3,94% đạt 129,79 triệu USD, riêng tháng 9/2019 đã nhập từ thị trường này 11,74 triệu USD, tăng 88,79% so với tháng 8/2019 và tăng 86,21% so với tháng 9/2018….

Không đủ tiềm lực tự phát minh thuốc mới nhập khẩu dược phẩm Việt Nam liên tục tăng.
Không đủ tiềm lực tự phát minh thuốc mới nhập khẩu dược phẩm Việt Nam liên tục tăng.

Đáng chú ý, trong đến hết quý 3/2019 Việt Nam tăng mạnh nhập khẩu thuốc từ thị trường Achentina với mức tăng gấp 2,5 lần (tức tăng 149,43%) tuy chỉ đạt 11,01 triệu USD, riêng tháng 9/2019 cũng đã nhập từ Achentina 3,06 triệu USD, tăng gấp 4,6 lần (tức tăng 364,46%) so với tháng 8/2019 và tăng gấp 4,2 lần (tức tăng 319,25%) so với tháng 9/2018.

Ngược lại, Việt Nam giảm mạnh nhập khẩu từ thị trường Philippines, giảm 78,93% tương ứng với 1,75 triệu USD, riêng tháng 9/2019 trị giá đạt 50,9 nghìn USD, giảm 80,4% so với tháng 8/2019 và giảm 87,51% so với tháng 9/2018.

Trong cơ cấu thị trường nhập khẩu thuốc 9 tháng năm 2019 của Việt Nam có thêm thị trường Bangladesh với kim ngạch đạt 15,64 triệu USD.

Theo số liệu thống kê từ Hãng Nghiên cứu thị trường IBM, quy mô thị trường dược phẩm Việt Nam năm 2018 lên tới gần 5,3 tỷ USD. Hãng này cũng dự báo, độ lớn thị trường sẽ lên tới con số 7,7 tỷ USD vào năm 2021 và đạt mức 16,1 tỷ USD cho tới năm 2026, với tỷ lệ tăng trưởng kép lên tới 11%.

Việc không đủ tiềm lực tự phát minh thuốc mới và chỉ một số ít doanh nghiệp có công nghệ tiếp cận với các tiêu chuẩn cao EU - GMP hay PIC/S là nguyên nhân chính khiến kim ngạch nhập khẩu dược phẩm liên tục tăng mạnh trong những năm gần đây.

Gần 55% nhu cầu dược phẩm trong nước phải đáp ứng bằng nguồn nhập khẩu, trong đó phải kể đến một lượng lớn là các loại biệt dược - thuốc có bản quyền phát minh (patent drug), với giá thành đắt đỏ do không thể sản xuất trong nước.

Chi tiêu dành cho thuốc theo đầu người tại Việt Nam năm 2017 khoảng 56 USD, dự báo con số này sẽ tăng lên 85 USD vào năm 2020 và 163 USD trong năm 2025, và đây là cơ sở khẳng định, tốc độ chi ngoại tệ để nhập khẩu dược phẩm còn tăng mạnh trong những năm tới.

Thị trường nhập khẩu dược phẩm 9 tháng đầu năm 2019

Thị trường

Tháng 9/2019 (USD)

+/- so với tháng 8/2019 (%)*

9 tháng năm 2019 (USD)

+/- so với cùng kỳ 2018 (%)*

Pháp

31.357.096

15,59

296.014.681

28,76

Đức

26.411.430

-1,08

241.530.656

6,84

Ấn Độ

20.223.642

6,76

183.367.856

-3,33

Hàn Quốc

18.750.725

58,48

130.790.525

10,23

Thụy Sỹ

11.746.896

88,79

129.799.260

-3,94

Italy

13.227.673

-22,95

127.219.356

-14,79

Mỹ

12.143.740

-4,9

122.760.553

30,68

Bỉ

12.704.336

24,48

122.164.538

102,3

Anh

13.178.287

17,02

93.432.425

-7,85

Thái Lan

10.767.475

46,77

77.205.372

47,88

Ireland

5.087.557

4,14

70.942.490

61,43

Tây Ban Nha

5.666.892

-16,07

57.612.086

-6,95

Áo

7.227.842

38,57

52.662.981

9,78

Thụy Điển

3.000.610

55,4

44.440.871

38,2

Australia

4.642.080

-6,57

43.418.890

7,12

Ba Lan

3.774.834

-12,58

38.160.628

8,06

Nhật Bản

3.018.309

20,99

35.773.361

-29,3

Hà Lan

3.039.295

-23,36

31.561.005

36,54

Trung Quốc

2.836.236

10,9

27.445.622

-3,54

Đan Mạch

4.467.683

51,36

27.400.475

-8,42

Indonesia

1.864.599

-28,81

27.180.716

35,08

Hungary

1.502.642

-13,44

19.636.932

-28,4

Pakistan

763.667

2,83

12.881.781

19,47

Thổ Nhĩ Kỳ

959.704

-65,57

12.873.430

67,93

Đài Loan

1.624.100

104,5

12.860.147

36,11

Singapore

1.357.038

-6,11

12.152.844

79,25

Achentina

3.065.035

364,46

11.017.014

149,43

Canada

1.065.297

184,45

10.851.555

18,75

Nga

653.086

102,77

5.798.460

-32,91

Malaysia

922.349

4,36

4.659.010

72,07

Philippines

50.960

-80,4

1.752.175

-78,93

(* Tính toán số liệu từ TCHQ)

Từ khóa: