“Nối gót” chiến tranh thương mại Mỹ-Trung sẽ là điều gì?

Thứ năm, 04/04/2019 | 09:47 GMT+7

NGÔ SINH (t/h)

Mỹ và Trung Quốc đang tiến tới một thoả thuận chung giữa hai bên, nhưng khó có thể là bước đột phá chấm dứt hoàn toàn cuộc xung đột của hai nước.

Trung Quốc và Mỹ cần tái định hình mối quan hệ kinh tế của họ nếu không sẽ có nguy cơ gây ra một cuộc Chiến tranh Lạnh 2.0 đe dọa nền kinh tế toàn cầu. Đây là nội dung chính được đề cập trên trang mạng eurasiareview.com ngày 2/4.

Washington và Bắc Kinh sẽ có thể đạt được một thỏa thuận thương mại song điều này sẽ khó có thể là bước đột phá chấm dứt cuộc xung đột thâm căn cố đế giữa hai nước. Một thỏa thuận mà hai bên có thể đạt được sẽ tập trung chủ yếu vào việc thu hẹp mức thâm hụt thương mại song phương ngày càng phình to của Mỹ với Trung Quốc trong nhiều năm qua.

Mức thâm hụt này lên tới 419 tỷ USD trong năm 2018, gần bằng một nửa tổng thâm hụt thương mại của Mỹ. Thay vì ăn mừng nếu hai bên đạt được một thỏa thuận, giới chức chính phủ và các nhà đầu tư cần suy tính trước về những vấn đề mang tính cấu trúc chưa được giải quyết như công nghệ, sở hữu trí tuệ, chính sách công nghiệp được nhà nước bảo trợ, và tình trạng chuyển giao công nghệ bị ép buộc thông qua các hình thức liên doanh. Đây là những vấn đề dẫn đến một cuộc xung đột kéo dài sau khi hai bên đạt được một thỏa thuận nào đó. 

Chiến tranh thương mại đang gây thiệt hại cho cả Mỹ và Trung Quốc.
Chiến tranh thương mại đang gây thiệt hại cho cả Mỹ và Trung Quốc.

Theo những cảnh báo của Phó Tổng thống Mike Pence và cựu Bộ trưởng Tài chính Henry Paulson, một kết cục như vậy dẫn đến khả năng xảy ra một cuộc chiến tranh lạnh kinh tế, với việc Mỹ và Trung Quốc bị mắc kẹt trong một cuộc xung đột kéo dài về các chiến lược mang tính cạnh tranh của hai mô hình kinh tế hết sức khác biệt. Cách đây 1 năm, Mỹ viện dẫn Khoản 301 Đạo luật Thương mại 1974 của cho rằng Trung Quốc là mối đe dọa hiện hữu đối với tương lai kinh tế của Mỹ.

Mặc dù tác giả bài viết cho rằng không có bằng chứng vững chắc nào để hậu thuẫn cho cáo buộc này, song Mỹ dường như quyết tâm thúc đẩy những vấn đề nói trên mà nhiều vấn đề trong số đó đóng vai trò quan trọng đối với chiến lược kinh tế dài hơi hơn của Bắc Kinh. Về phần mình, Trung Quốc lo ngại rằng Mỹ thực hiện chiến lược “kiềm chế Trung Quốc” – làm mọi việc trong phạm vi quyền lực để gây cản trở cho giai đoạn phát triển tiếp theo của Trung Quốc.

Bắc Kinh khó lòng chấp nhận từ bỏ chiến lược kinh tế cốt lõi của mình và nhiều khả năng hai hệ thống kinh tế này sẽ có cuộc đấu tranh kéo dài, gọi là Chiến tranh Lạnh 2.0. Cuộc chiến này đương nhiên sẽ đối lập với Chiến tranh Lạnh 1.0, vốn thiên về đấu tranh quân sự giữa Mỹ và Liên Xô. 

Điều đáng nói, đối với Mỹ, nền kinh tế của nước này hiện đang ọp ẹp hơn trước kia nhiều để có thể thực hiện một cuộc chiến tranh lạnh vào thời điểm hiện nay so với thời điểm cuộc chiến tranh Lạnh 1.0 từ những năm 1947 – 1991.

Sự đối lập trong quan điểm toàn cầu giữa Mỹ và Trung Quốc đã lộ rõ ngay từ thời kỳ đầu của Chính quyền Donald Trump. Trong bài diễn văn nhậm chức, Trump tuyên bố: “Bảo hộ sẽ dẫn đến thịnh vượng và sức mạnh lớn”. Trong khi đó, phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới ở Davos, Chủ tịch Tập Cận Bình cho rằng Trung Quốc “cần thích ứng và dẫn dắt toàn cầu hóa kinh tế”.

Sau đó, cả hai nước đã có những động thái mạnh mẽ để thể hiện những tuyên bố này của mình, đặc biệt được biểu hiện qua việc Trump phản đối chủ nghĩa đa phương như rút khỏi Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương và Hiệp định Paris về chống biến đổi khí hậu, đồng thời dọa sẽ có động thái tương tự với NATO và WTO. Ngược lại, Tập lại thực hiện chính sách đa phương thông qua những nỗ lực đặt Trung Quốc ở trung tâm như sáng kiến “Vành đai và Con đường”.

“Nối gót” chiến tranh thương mại Mỹ-Trung sẽ là điều gì?

Trump sai lầm khi cho rằng thuế quan sẽ “khiến Mỹ vĩ đại trở lại” bằng cách khôi phục công ăn việc làm ngành chế tạo. Tuy nhiên, với việc tỷ lệ việc làm trong ngành chế tạo của Mỹ giảm từ 40 sau Thế chiến II xuống chỉ còn 8,5% như hiện nay phần lớn do tiến bộ của công nghệ và năng suất, thì việc làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại khó có thể đạt được.

Trong khi đó, chủ nghĩa đa phương của Tập lại tập trung vào việc nâng cao hiệu quả của tự do thương mại, chuỗi giá trị toàn cầu và hy vọng là tái cam kết đối với phương thức điều hành toàn cầu hóa dựa trên quy tắc.

Trong mối quan hệ cùng phụ thuộc lẫn nhau giữa Mỹ và Trung Quốc, sức mạnh và sửa đổi có thể rốt cục xuất phát từ nội tại. Nếu cả Washington và Bắc Kinh xử lý được những vấn đề kinh tế của mình thì hai nước có thể xử lý tốt hơn những vấn đề giữa hai bên.

Với Trung Quốc, điều này đồng nghĩa với việc tiếp tục tập trung vào tái cân bằng và thay đổi cấu trúc bằng cách đầu tư giải quyết những thách thức trong nước. Còn đối với Mỹ, điều đó đồng nghĩa với việc giải quyết những thiết hụt kéo dài đối với tiết kiệm trong nước và tăng cường đầu tư vào việc tái thiết cơ sở hạ tầng, năng lực sản xuất và vốn con người cần thiết cho quá trình làm sống lại nền kinh tế mang tính cạnh tranh.

Mặc dù có khả năng Mỹ và Trung Quốc đạt được một thỏa thuận bề ngoài nhưng khó có thể lạc quan cho rằng hai nước sẽ đạt được một bước đột phá có ý nghĩa nào đó. Không cần lãnh đạo hai bên có tầm nhìn chiến lược, can đảm và bạo dạn để khôi phục niềm tin và tái thiết mối quan hệ.

Điều cần duy nhất là tăng cường sức mạnh từ bên trong mỗi nước thì khi đó hai nền kinh tế lớn nhất thế giới này mới có thể thay đổi mối quan hệ từ cùng tồn tại mang tính cạnh tranh lẫn nhau thành phụ thuộc lẫn nhau mang tính xây dựng.

Việc tái định hình mối quan hệ kinh tế Mỹ-Trung như vậy sẽ một lần nữa giúp củng cố các hành trình tăng trưởng tương ứng của mỗi nước chứ không tạo ra những rạn nứt gây ra những cản trở nghiêm trọng đối với tương lai chung của hai nước.

Đáng tiếc, khả năng đi đến một thỏa thuận tồi lại nhiều hơn khả năng đi đến một thỏa thuận thực chất và bền vững có thể giúp hóa giải những mối đe dọa mà cả hai nước đều lo sợ nhất. Một cuộc xung đột kéo dài theo kiểu Chiến tranh Lạnh 2.0 không chỉ đe dọa Mỹ và Trung Quốc mà còn cả nền kinh tế thế giới.

Từ khóa: