Xuất khẩu xi măng và clanhke sang thị trường Austrailia tăng đột biến

Thứ hai, 12/08/2019 | 11:13 GMT+7

PHƯỢNG LÊ (t/h)

Tuy là thị trường nhập khẩu xi măng và clanhke từ Việt Nam chỉ chiếm 0,8/% thị phần, nhưng xuất sang Australia tăng đột biến cả về lượng và trị giá.

Dù chỉ chiếm 0,5% tổng lượng xi măng và clanhke xuất khẩu trong 6 tháng đầu năm 2019, nhưng tốc độ xuất khẩu mặt hàng này sang thị trường Australia lại tăng đột biến gấp 13 lần về lượng so với cùng kỳ 2018.

Theo cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương, ước tính xuất khẩu clanhke và xi măng trong tháng 2/2019 đạt khoảng 2,5 triệu tấn, trị giá 105 triệu USD, giá xuất bình quân 42 USD/tấn, giảm 13% về lượng và 14,8% trị giá, giảm 2,1% về giá so với tháng 1/2019; nếu so với tháng 2/2018, tăng 15,2% về lượng và 36,3% trị giá, giá bình quân tăng 18,3%.

Xuất khẩu Xi măng và clanhke sang thị trường Austrailia tăng đột biến.
Xuất khẩu Xi măng và clanhke sang thị trường Austrailia tăng đột biến.

Ngoài ra, theo thống kê sơ bộ từ Tổng cục Hải quan, tháng 6/2019 cả nước đã xuất khẩu 1,49 triệu tấn xi măng và clanhke, trị giá 77,53 triệu USD, giảm 27,8% về lượng và 28,7% về trị giá so với tháng 5/2019.

Tính chung 6 tháng đầu năm 2019, xuất khẩu nhóm hàng này đã thu về 666,82 triệu USD, đạt 15,59 triệu tấn, tăng 1,3% về lượng và tăng 17,9% trị giá so với cùng kỳ năm 2018.

Trong số thị trường nhập khẩu clanhke và xi măng của Việt Nam, thì Trung Quốc đại lục là thị trường chủ lực, chiếm 40,46% thị phần đạt 6,31 triệu tấn, trị giá 248,19 triệu USD, tăng 64,94% về lượng và tăng 88,56 trị giá so với cùng kỳ 2018. Giá xuất bình quân đạt 39,31 USD/tấn, tăng 14,32%.

Clanhke và xi măng của Việt Nam được xuất khẩu chủ yếu sang các nước Đông Nam Á, trong đó Philippien đứng đầu về lượng xuất, đạt 778,2 nghìn tấn, trị giá 38,9 triệu USD, giá xuất bình quân 50,07 USD/tấn, tăng 33,98% về lượng, 49,56% trị giá và giá bình quân tăng 11,62% so với tháng 1/2018.

Thị trường có lượng xuất nhiều đứng thứ hai là Bangladesh, đạt 770,4 nghìn tấn, trị giá 29,8 triệu USD, giảm 15,25% về lượng nhưng tăng 6,89% trị giá, bởi giá xuất bình quân tăng 26,12% đạt 38,76 USD/tấn.

Kế đến là các thị trường Trung Quốc lục địa, Đài Loan, Malaysia, Peru, Campuchia, Australia và cuối cùng là Lào – đây là những thị trường có lượng xuất với tốc độ giảm dần, trong đó đáng chú ý xuất khẩu sang thị trường Australia tăng đột biến, tuy lượng xuất chỉ đạt 25,7 nghìn tấn, trị giá 1,3 triệu USD, nhưng so với cùng kỳ tăng gấp 42 lần về lượng (tức tăng 4105,56%) và gấp 18,2 lần trị giá (tức tăng 1721,44%), mặc dù giá xuất bình quân giảm 56,69% chỉ đạt 52,03 USD/tấn.

Đáng chú ý, thời gian này xuất khẩu clanhke và xi măng sang thị trường Australia tiếp tục tăng trưởng mạnh. Nếu như kết thúc quý 1/2019, xuất khẩu xi măng và clanhke sang thị trường Australia tăng đột biến (gấp hơn 23 lần về lượng và 8,8 lần trị giá so với quý 1/2018) thì sang quý 2/2019 và 6 tháng đầu năm 2019 tốc độ xuất khẩu sang thị trường này vẫn giữ mức tăng trưởng mạnh.

Cụ thể, 6 tháng năm 2019 đạt 84,3 nghìn tấn, trị giá 3,8 triệu USD, so với cùng kỳ tăng gấp 13 lần về lượng (tức tăng 1203,28%) và gấp 5,86 lần về trị giá (tức tăng 486,3%). Riêng tháng 6/2019, xuất khẩu clanhke và xi măng sang Australia giảm 33,54% về lượng và 42,67% trị giá chỉ với 733 tấn, trị giá 53,97 nghìn USD.

Ngược lại với thị trường Australia, xuất khẩu sang thị trường Chile và Bangladesh giảm mạnh, giảm lần lượt 83,58% và 61,65% tương ứng với 26,6 nghìn tấn; 1,69 triệu tấn.

Thị Trường T1/2019 So với cùng kì 2018
Lượng (Tấn) Trị giá (USD) Lượng Trị giá
Philippins 778.249 38.967.324 33,98 49,56
Bangladesh 770.498 28.863.777 -15,25 6,89
Trung Quốc 623.093 23.930.680 -17,86 -0,11
Đài Loan 186.440 7.574.305 15,51 55,28
Malaysia 89,316 3.417.135 36,79 68,67
Pê Ru 44.000 2.108.000 -12,81 -8,31
Campuchia 33.130 1.754.054 4,85 8,93
Australia 25.738 1.339.126 4.105,56 1.721,44
Lào 17,585 1.322.870 38,66 53,6

Theo thông tin từ Thương vụ Việt Nam tại Philippines, Bộ Thương mại và Công nghiệp Philippines (DTI) vừa có thông báo về việc áp dụng biện pháp tự vệ tạm thời đối với sản phẩm xi măng nhập khẩu vào quốc gia này.

Thương vụ Việt Nam tại Philippines cho biết, sau quá trình điều tra, DTI kết luận rằng lượng nhập khẩu xi măng gia tăng đột biến là nguyên nhân gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất trong nước trong thời kỳ điều tra.

Do đó, để bảo vệ cũng như thúc đẩy ngành sản xuất nội địa tiếp tục phát triển, DTI quyết định áp dụng biện pháp tự vệ tạm thời 8,40 Php/túi 40kg, tương đương 210 peso/tấn (khoảng 4 USD/tấn).

Theo đó, biện pháp tự vệ tạm thời này sẽ có hiệu lực trong 200 ngày dưới hình thức tiền ký quỹ đối với xi măng nhập khẩu với sản phẩm bị điều tra là xi măng có mã HS: 2523.2990 và 2523.9000; thời kỳ điều tra để xem xét lượng tăng nhập khẩu, thiệt hại từ năm 2013-2017.

Cơ quan điều tra cho rằng, lượng xi măng nhập khẩu đã gia tăng tới 70% trong giai đoạn 2014-2017. Được biết, Việt Nam là nước có lượng xuất khẩu và thị phần xuất khẩu xi măng lớn nhất vào Philippines trong giai đoạn này.

Từ khóa: